TRUYỀN
THỐNG NAM BỘ
Sơn Nam
Truyền thống gia đình
Truyền thống gia đình hình thành từ kinh tế
nông nghiệp. Nói đến truyền thống là nhắc
nhở nền nếp được noi theo liên tục, qua
những biến cố lịch sử, lắm khi
người noi theo lại không ngờ mình đã theo
truyền thống. Nói chung trong cả nước,
truyền thống vẫn giống nhau nhưng vì hoàn
cảnh phân tán, tình hình gia đình giàu nghèo, khả năng
liên lạc , nên có khác về chi tiết.
Nam Bộ sớm bị đô thị hóa, lại xáo
trộn về chiến tranh, thời kỳ xây dựng
lại gặp cảnh khan hiếm nhà đất. Về già
ai cũng muốn về truyền thống xưa, nhưng
nhà chật làm sao bày biện bàn thờ tổ tiên ? Ngày
giỗ, khó nhắc nhở con cháu nên qui tụ lại cho
ấm cúng.Dịp cưới hỏi, lắm khi đại
gia đình đoàn tụ để chung vui. Khi gặp ma
chay, việc nhắn tin,khả năng tài chánh lắm khi khó
khăn đối với người trong thân tộc. Thêm
trường hợp gia đình có người di tản,
chỉ là nhắn tin muộn màng, gởi ảnh, gởi
vidéo. Ngay trong nước, giữa các nơi ta vẫn thấy
có khác biệt. Lại có ảnh hưởng gia đình bên
chồng, bên vợ, về tôn giáo (đạo Phật,
đạo Thiên chúa…), ít ai còn giữ được
truyền thống mà mình mơ ước. Ngày Tết,
đoàn tụ cả gia
đình đã là khó : sinh kế, đi tỉnh làm việc, ốm
đau, phương tiện, quà cáp. Khó tím đất
để chôn cất, thái độ cỨa gia tộc
đối với cái hỨ đựng cốt ra sao ? Nghi
thức tụng niệm, mời nhà sư làm tuần
lắm khi tùy từng người. Ngày giỗ lắm khi
dời lại cho đúng ngày chỨ nhật để bà
con rảnh rang đoàn tụ.
Vấn đề khái quát, xin dựa vào Việt Nam
phong tục cỨa Phan Kế Bính mà khẳng định vài
nét.
Cha mẹ
Nói chung gọi cha mẹ là ba, má- không còn gọi là tía,
má (tía là tiếng Tàu). Gọi bố, lắm khi là đùa
cợt, thân mật. Đặt tên cho con không còn là kiêng
kỵ như trước. Vì tiếp xúc với thành
thị, thêm ảnh hưởng chiến tranh, ai cũng
muốn con mình mang tên đẹp. Tên con trai gợi sự
dũng mãnh, phấn đấu vì vậy lắm khi
đặt là Hùng, Dũng, con gái gợi vẻ đẹp
như Thúy, Hoa, Đào.
Thời trước 1945, ở nhà quê thường
kiêng cử, sợ ma quỉ quấy rối nên đặt
tên con với những tiếng xấu xí :Chuột, Vẹo,
Đen, hoặc vì sợ đông con nuôi không xuể nên
gọi là Út, rồi Út Nhứt, Út Nhì hoặc Thôi, Hết.
Nay những tên xấu không còn nữa. Gọi cha mẹ
bằng anh chị để phòng ma quỉ, con ranh con
lộn, hoặc gọi cha mẹ là cậu mợ gaân
như không còn thông dụng.
Vai trò của người con gái trong gia
đình
Trên lý thuyết, xã hoôi ta theo phụ hệ, nhưng
ở Nam Bộ, người con gái, đàn bà nắm khá
nhiều quyền hạn trong gia đình. Mẹ sinh
đẻ, cha đau ốm, việc săn sóc thuộc
về ngưòi vợ, hoặc con gái, nếu không con gái thì
con dâu.
«Phu tử tùng tử» cũng là lý thuyết. Trong
thực tế, cha mất , mẹ cầm quyền, trừ
trường hợp đặc biệt mẹ
nhường quyền cho con. Mua bán nhà đất,
cưới vợ gả chồng cho con cái, trường
hợp vắng cha vẫn là người mẹ quyết
định. Vì kinh tế thị trường, lắm khi
người đàn bà có hoàn cảnh làm kinh tế gia
đình, hoặc kinh doanh : chơi hụi hè, mở tiệm
tạp hóa, cho vay đặt nợ. Con mà được
mẹ yêu thương, nhứt định được
chia phần gia tài nhiều hơn mấy đứa khác!!!
Ngày giỗ trong gia đình, người mẹ, hoặc
người vợ có phận sự nhắc nhở và
quyết định cách tổ chức lớn nhỏ.
Nề nếp nầy vô cùng quan trọng, và
được chứng minh thời chiến tranh, bởi
lắm khi người vợ, người mẹ đôn
đốc chồng con lo việc nước. Lại còn
kiên trì thăm nuôi chồng con khi bị bắt, bị tù.
Khi đặt tên con, người chồng luôn tham
khảo ý kiến cỨa vợ. Việc bố trí bàn
thờ thánh thần và Phật trong nhà thường là
người đàn ông nhường quyền cho vợ.
Người đàn bà nói chung săn sóc phần kinh tế gia
đình để người đàn ông rảnh rang lo
việc ngoài xã hội.
Riêng việc cưới hỏi, người Việt
tỏ ra khắc khe so với người Pháp, hoặc
người Hoa. Quá 4 đời không nhận ra liên hệ
huyết thống thì mới được cưới
hỏi. Khác họ, dễ cưới nhau, nhưng bà con bên
dì (con cỨa hai chị em) vẫn cấm kỵ. Cùng chung
một họ, nhưng ở địa phương khác
nhau dễ cưới hỏi nhau.
Quan hệ anh em
Thông thường, anh chị em một cha khác mẹ,
khác cha vẫn được đối xử bình
đẳng, không phân biệt trừ ngoại lệ.
Lắm khi, đối với người ngoài gia đình,
anh em khác cha, khác mẹ luôn che
giấu sự khác biệt ấy, ai quá tò mò thì mới nói
sự thật.
Đối với chị, em gái, người anh
hoặc em trai luôn kính nể, tránh sỗ sàng, chửi
mắng, rầy la thô tục. Lắm khi trong việc chia gia
tài, dành ưu tiên cho chị hoặc em gái.
Cha hoặc mẹ
mất, sự gắn bó giữa anh em dòng họ là
nguyên tắc biểu lộ sự hiếu thảo.
Đám giỗ
Lễ giỗ trong gia đình là lệ khó bỏ qua
được, ngay thời chiến tranh. Từ mấy
năm qua, lắm khi lại rình rang.
Theo nguyên tắc, nếu ở gần nhau, an hem
thường tổ chức giổ cha mẹ hoặc ông bà
ở nhà nào rộng rãi
nhứt, có người trưởng thượng
đầy đỨ uy tín với an hem.Tùy hoàn cảnh, anh
chị em góp công sức, dịp tốt để bà con an
hem gặp mặt nhau, vui vẻ trong một buổi. Góp công
sức vẫn quan trọng như tiền bạc. Thời
xưa, con gái không được làm đám giỗ cha
mẹ mình ở nhà chồng, nhưng ngày nay, người
chồng thường vui vẻ làm lễ giỗ cho cha
mẹ vợ tại nhà mình.
Thờ cúng ông bà phải chăng là dạng tôn giáo dân
gian ? Nhiều nhà nghiên cứu đã bàn cải. Đã
bảo là tôn giáo (đạo thờ cúng ông bà) thì ai là
chức sắc, như trường hợp thượng
tọa trụ trì ở chùa hoặc linh mục cai quản
giáo xứ bên đạo Thiên chúa. Dứt khoát đã có câu
trả lời : người con trưởng nam, đúng
hơn là người giữ gìn hương hỏa,
được cha mẹ chỉ định hay anh em Ứy
quyền là người chỨ lễ với quyền
hạn gần như tuyệt đối :
- qui định thời điểm cử hành
- mời khách
quan trọng đến dự, có thể là bạn thân
cỨa người quá cố, người mà gia đình
chịu ơn
- có thể
đưa thực đơn cúng giỗ (cúng với món
ăn mà người quá cố thích, lắm khi rẻ
tiền)
- thắp nhang
trước tiên để khai mạc lễ giỗ, sau
đó anh chị em mới thắp nhang sau. Có thể là người
trưởng nam nghèo túng,
thất học, nhưng an hem dòng họ vẫn phải tôn
trọng, kính nể.
- ra lịnh
chấm dứt lễ giỗ và dọn mâm cỗ
Trên nguyên tắc, hương hỏa là ngọn đèn
(thếp nến) luôn cháy ngày đêm và nén hương trên bàn
thờ tiêu biểu cho sự
trướng tồn cỨa dòng họ. Ngày nay, đơn
giản hơn, thắp ngọn đèn trứng vịt,
đốt nhang từ ngọn đèn, không được
tùy tiện dùng hột quẹt cá nhơn mà đốt.
Quan hệ với xã hội
Ở nông thôn ngày xưa,cùng làng xóm thì giúp đỡ
nhau, nay cuộc sống đã đô thị hóa, tuy chịu
ảnh hưởng cỨa đô thị, vai trò cỨa gia
đình với xã hội vẫn quan trọng;
- Tham gia các công tác xã hội, cộng đồng
- Nhà bên cạnh
có đám tang nên bày tỏ sự cảm thông, không gây ồn
ào, ví dụ như vặn máy thu thanh, băng nhạc
lớn tiếng.
- Dầu ngày
thường ít giao thiệp nhưng dịp nầy cũng
nên đến viếng tang gia
- Dịp
cưới hỏi, nếu nhận được
thiệp mời nên cố gắng tham dự, thường
là dự phần tiệc tùng, chung vui. Tránh đưa trẻ
con còn nhỏ tuổi tham dự tiệccưới
người không thân thiết, gây ồn ào, chiếm một
phần ăn.
- Tham dự đám tang người quen biết là
điều tế nhị. Nên xem có nhận phúng điếu
bằng tiền hay không, xem phong tục cỨa gia đình có
tang. Đối với người lớn tuổi hoặc
bà con xa gần thì từ đôi ba năm qua, lễ lạy
trước quan tài trở thành quen thuộc vì đó là
sự biểu lộ lòng thành kính, an Ứi khổ chỨ thay cho lời nói.
Nghi thức thông thường là :
· Lạy 2
lạy, hiểu ngầm sẽ trở lại khi di quan
· Kạy 4
lạy, hiểu ngầm sẽ không trở lại
· Lắm khi
lạy ba lạy, thay vì bốn, hiểu ngầm cha mẹ
mình còn sống, chừa một lạy choc ha mẹ mình
· Người
đồng tuổi cứ lạy, người quá cố
nhỏ hơn một tuổi, vẫn lạy.
· Nếu tang gia
có bố trí bàn Phật ở bên cạnh, trước tiên
nên cấm nhang trên bàn Phật
· Thắp nhang,
nếu nhang bốc cháy ngọn, không được dùng
miệng thổi cho tắt, phải quơ qua quơ
lại, sợ ô uế
Thực chất và biến dạng của
các món ăn Nam Bộ
Món ăn Nam Bộ rất đa dạng, thay
đổi tùy giai đoạn ngắn dài, thử đúc
kết lại vài nét lớn là diều không đơn
giản. Qua thời gian, ta thử nêu lên vài nét định
hình :
- Ăn sáng lót lòng còn gọi là điểm tâm không
nằm trong đề mục cốt yếu cỨa món
ăn. Nếu là nhà nông hoặc gia đình khá giả,
người lao động thường ăn 3 bữa :
sáng, trưa xế và tối, bằng không chỉ 2 bữa
thôi, buổi sáng thường thả nổi cho từng
người liệu định.
- Hồi trước1945, nhiều gia đình khá
giả còn duy trì kiểu lót chiếu, ngồi ăn trên
đất, có lẽ theo ảnh hưởng người
Chàm. Kiểu ăn trên bộ ván, ngồi xếp bằng
như chẳng còn thấy ở gia đình trung lưu
miền quê. Ngồi trên bộ ván thì phải theo tư
thế xếp bằng, quen thói nên khi ngồi trên ghế
dễ mỏi chân. Vã lại, bộ ván ngày nay
mắctiền, divan thì quá nhỏ hẹp.
- Tuy tiếp xúc với Tây phương từ cuối
thế kỷ 19, người Việt vẫn bảo lưu
cách ăn cơm với đũa, nếu cần chan
hoặc húp thì dùng muỗng riêng hoặc chung. Nước
mắm thường chấm chung một chén cho nhiều
người trong khi người Hoa rất kỵ dùng cái
muỗng công cộng, tha hồ
thọc đũa cỨa nhiều người trong tô
canh, nhưng chan húp thì mỗi người một muỗng
riêng.
- Không thích dùng nĩa, ngoại trừ dùng nĩa
nhỏ để ghim những miếng trái cây như xoài
đã gọt sẵn. Gần như tuyệt đối
không dùng cây dao nhỏ để cắt thịt :con vật
đã bị giết, cắt ra từng miếng,pha chế
rồi còn bị cắt nữa thì tàn ác và thô thiển
đối với người ngồi bên cạnh. Nếu
cần thì cắt sẵn trước khi đem ra dĩa
như trường hợp
thịt bò lúc lắc.
- Ảnh hưởng cỨa Tây phương chỉ
thấy trong trường hợp ăn cơm tấm, cơm
bì, gọi nôm na là cơm dĩa. Theo tối thiểu, đây
là kiểu trình bày gọn do người Hải Nam bày ra
từ trước năm 1945, gọi cơm xào.
Người Hải Nam hồi thế kỷ 19 vì ở
hải đảo gần Hương Cảng đã
chọn nghề nấu bếp cho tàu buôn Tây phương,
đi theo tàu biển.
Về món ăn Nam Bộ theo nghĩa vùng
Saigon và phía đồng bằng, có thể chia làm 3 loại:
món cúng ông bà hoặc thần thánh, món nhậu và món ăn
cơm.
1- Món cúng:
Trên lý thuyết phải có 4 món cơ bản. Ở đồng bằng sông Hồng
có món :giò, nem, ninh, mọc, còn
ở Nam Bộ thì cũng tuân thỨ 4 món tương
ứng như ở phía Bắc kiểu giò, nem, ninh, mọc.
Dịp cúng giỗ tổ tiên, chẳng ai hiểu rõ ông
bà thời xưa khi vào Nam thích ăn món gì, chế biến
các món ra sao, nhưng tùy hoàn cảnh mà có 4 món: hầm, thịt luộc, xào, kho.
Nên hiểu không phải là dâng cúng theo cha mẹ đã quá
cố nhưng bà con xa gần thời xa xưa cũng
được tham dự, vì vậy nếu cúng 3 mâm ở 3
bàn thờ (giữa, bên trái, bên mặt) hay một bàn thờ
thì thứcăn phải giống nhau.
Món hầm, tức thịt heo hầm, thường là
giò heo hầm măng tre Mạnh tông,loại măng ngon
nhứt cỨa Nam Bộ (gợi tích ông Mạnh Tông trong
Nhị Thập tứ hiếu).
Món thịt luộc là thịt ba chỉ, xắt
mỏng.
Xào là món bị câu thúcvề hình thức : xào chua, xào
mặn với rau cải, đồ lòng, hoặctôm, gần
như tuyệt đối không dùng thịt rừng.
Món kho thường là thịt heo, cá lóc kho với
nước dừa để gợi phong vị miền
Nam.
Ở miền quê, ngày xưa bày đám giỗ linh
đình với quá nhiều món khác nhau, lắm khi ăn không
hết các món, nhưng căn bản phải có 4 món cổ
truyền như trên.
Ngoài ra, còn để dành ở một bàn riêng, không cúng
trên bàn thờ vốn đã chật chội, chờ khi
đãi khách sẽ dọn ra như thịt bò xào, bánh mì càri,
chả giò…Thời xưa, ông bà ta không có tục ăn tráng
miệng như người Tây phương, vã lại trái
cây đã được chưng sẵn từ trước
trên bàn thờ rồi.
Rượu phải là rượu đế, vì tổ
tiên không biết rượu Tây, rượu Tàu.
Lắm khi ở quê, ở gia đình nhà vườn, có
bày tiệc nhậu lai rai ở trước sân, bờ
vườn, nhằm cầm giữ những người
khách đến sớm, thường là nhậu với vài
miếng thịt gà, đồ lòng, nhưng không có những
món hoang dã như rùa rắn. Vài món đặc sản như
chả cua, gà quay, càri, heo quay bánh hỏi có thể dọn
cúng, ở gia đình nửa quê nửa chợ.
Gần như tuyệt đối không cúng những
đồ chế biến sẵn đựng trong hộp.
Lắm gia đình vì hoàn cảnh phải đặt buổi
tiệc giỗ ở nhà hàng, nhưng khi đến giờ
lễ, họ cũng mang đến một số món
tự pha chế như khổ qua hầm thịt, thịt
kho để cúng trên bàn thờ còn những món đặt
ở nhà hàng thì để đãi bạn bè, thân quyến.
Theo sự quan sát cỨa chúng tôi, gần như
vắng mặt món mắm. Ở phía Nam, phải chăng
đó là dấu ấn cỨa người Chàm, người
Khmer. Người Việt chỉ
muốn giữ những gì thuần túy cỨa ông bà
từ nhiều thế hệ trước. Điều đó
để chứng minh gia đình người Việt
đã ổn định, có nề nếp chớ không còn
ở trong thời kỳ du canh, du cư lúc mới khẩn
hoang.
2 - Món ăn cơm
Cơm ngày hai bữa, theo lệ VN. Ăn mặn,
uống đậm, tùy hoàn cảnh địa phương
và mức sống gia đình.
Điển hình nhứt là canh chua, cá kho, hai món nầy
vẫn trường tồn trong thức ăn cơm. Canh
chua nấu với trái me chín, đặc sản vùng
nhiệt đới. Theo khẩu vị cỨa người
lớn tuổi, việc quan trọng nhứt là
người đứng bếp cần điều tiết
cho hài hòa, húp một chút nước canh đang sôi, nhỨ
thầm 4 tiếng : chua, cay,mặn, ngọt. Không để
cho vị chua lấn vị cay, không quá mặn nhưng cái
hậu thì ngọt. Tùy địa phương, lựa
loại cá nào rẻ nhứt mà
mua, như cá tra sông rạch thiên nhiên, hoặc cá lóc
ở đồng ruộng có chút ít phèn, ngon đặc
biệt là cá ở rừng tràm. Cá lóc to con quá thịt có
thớ không ngon, ngược lại cá còn non thịt ăn
nhão. Cá tra, cá bông lau lựa con không quá lớn. Cá ba sa có 3
lớp mỡ sa ở bụng, mỡ nhiều nhưng không
ngán như mỡ heo. Những món độn thường là
cọng bạc hà, giá, đậu bắp, nhưng không nên
độn quá nhiều, sau nầy thêm cà tomate, tùy khẩu
vị. Canh chua phải đậm đà để giải
nhiệt, nhứt là vào mùa nắng. Buổi trưa, vì
uống nước quá nhiều nên khó « nuốt cơm ». Húp
canh chua vào thấy trơn cổ, thèm ăn. Nhiều
người chê cá lóc vị lạt, cũng như cá tra, cá
bông lau cũng lạt, vì vậy có người nấu súp
xương heo pha vào nước canh chua, pha lén,
người ăn thấy ngon hơn. Nếu có ớt
xắt từng lát khá dầy, loại ớt to. Nhiều
người lại thích ăn canh chua chấm với
nước mắm nguyên chất hoặc cầu kỳ
hơn, chấm với muối ớt.
Cá kho, nay gọi là cá kho tộ, ban đầu là kho
trong cái mẻ kho, nôm na là cái tô bể ngoài vành, dùng kho cá
kiểu tạm bợ, lắm khi để trên than lửa
cỨa cái cà-ràn. Ăn còn dư cứ để dành, hôm sau
ăn trở lại. Cá kho trong tộ thường là cá
vụn cỨa nhà nghèo, kho tới kho lui nhiều lần thì nước mắm cá biển
sẽ quyện với cá kho, toát lên hương vị đặc
biệt. Vì tô bể, phải để nghiêng nghiêng trên than
lửa không nhiều nước. « Thạch Sùng còn thiếu
mẻ kho », phải chăng là cái tô bể để kho cá
vụn, hôm trước ăn còn dư để
dành,nếu không còn cá thì còn nước sền sệt, dùng
đũa mà quệt cũng qua bữa cơm nghèo. Muốn
được ngon, nên bỏ nhiều tiêu sọ.
Nước mắm ngon, đem kho cho đặc sệt,
quyện với cá thì ngon gấp bội, phải là cá
đồng để hài hòa, với nước mắm cá
biển đậm đặc. Lý tưởng nhứt là
lựa cá rô ngon, còn tươi, nếu không thì cá trê, cá lóc.
Ăn cá kho, lắm người đòi thêm dưa cải.
Vẫn là món ăn cơm thường lệ trong gia
đình, còn có mắm chưng, tép kho, hoặc món bí rợ(bí
đỏ) hầm với
nước cốt dừa. Có thể dùng món cá trê
nướng chấm với nước mắm gừng,
thêm canh bí dđo nấu thịt heo,canh bầu nấu
với cá trê, cá bóng kèo kho(miền nước lợ). Cá tôm
đa dạng, vừa cá biển, vừa cá đồng giúp
cho bữa ăn cỨa giới bình dân tạm gọi là «
qua buổi », thí dụ như cá chốt, cá linh kho tiêu làm
thức ăn chính yếu. Lại có món cá khô, ví dụ
như khô cá lóc, khô cá tra, cá đuối ăn thêm chút ít cho
vui miệng.
Cá biển có thực đơn riêng, tùy vùng, thêm tôm cua
ngày nay giá quá cao. Nói chung, cá biển rất ngon, nhưng
đòi hỏi cách pha chế thích hợp, trừ
trường hợp cá thu kho, thì cá biển chỉ ăn
ngon ở lửa đầu, nếu để dành hâm
lại thì mất hương vị. Bởi vậy, ta
thấy nhiều miền biển vẫn thèm thịt heo, cá
đồng, cá vùng nước ngọt.
3 - Món nhậu
Nhậu là tiếng thanh không gợi ý thô tục. Theo
tự vị cỨa Huỳnh Tịnh CỨa năm 1896,
nhậu ghi là uống! Ăn
nhậu tức là ăn uống, nhậu rượu là
uống rượu, nhậu nước là uống
nước.Uống rượu chẳng có gì là xấu,
chỉ xấu khi đến
mức thái quá, lãng phí tiền bạc và sức khỏe. Ngày
nay, quán nhậu mọc lên khá nhiều, nơi sang trọng,
nơi giá cao thì xưng là «cửa hàng đặc sản»
để gợi vẻ văn minh đạo lý. Ở thôn
quê, tiệc nhậu là chuyện bình thường giữa
bạn thân với nhau, sau mùa gặt hái thành công, chăn nuôi
có lợi. Nhậu ngoài sân, ngoài vườn, lấy khung
cảnh thiên nhiên làm bối cảnh, đồng thời
cũng tránh sự tò mò cỨa trẻ con, sợ gây tác
hại. Nhậu phải có rượu nhậu như ở
Nam Bộ, rượu không quan trọng bằng « mồi
nhậu ». Mồi nhậu đơn giản như một
con vịt luộc, hay con cá lóc, chỨ nhà thường
tự trọng, không muốn làm phiền vợ con trong nhà.
Món ăn phải gọn, một món là đỨ để
thưởng thức hương vị cỨa món ấy mà
thôi.Thí dụ như thịt chuột không thể nhậu
xen với thịt rắn, cua. Nhậu đòi hỏi hài hòa
hữu cơ giữa rượu, món ăn, cọng rau,
nước chấm, dĩ nhiên phải có bạn tri âm, tri
kỷ. Người nầy thích ba khía, trái me, người
kia thích con cua lột đầu mùa, có kẻ thèm món cua
đồng xào với cọng lá mái đàn, lại ưa
mắm sống với xoài chua đầu mùa.
Món ngon đệ nhứt, đến bậc vua chúa còn
thèm là « con đuôn chà là », chữ gọi hồ đa
tử. Hồ đa là cây dừa rừng, tức cây chà là
hoang dại ở miền nước mặn, giống
như cây cau trồng làm kiểng, trái nhỏ tạm hái
để ăn trầu, nhưng bên trong cỨ hũ
(đọt non) đến mùa sau Tết thường có con
đuôn. Con đuôn nầy nhỏ hơn con đuôn ăn
đọt dừa, trứng đẻ ở bẹ lá non,lớn
lên nở ra con đuôn (như con nhộng) dừa rừng.
Phải bắt con đuôn nầy trước khi nó nở
ra con bướm. Đuôn to và mập, mỗi đọt cây
chà là chỉ có một con đuôn mà thôi. Đem nướng
đuôn trên vỉ sắt, cho héo rồi ăn,chắm
nước mắm nhĩ nguyên chất. Con đuôn non béo ngậy
vì tăng trưởng, ăn ròngcỨ hũ cây chà là. Nay
thấy ở quán nhậu bày bán với giá 8000 đồng
một con. Các món nhậu vừa sang trọng, vừa dân
dả không kể hết được, lắm khi quái
đản, ít phổ biến.
Vũ Bằng ghi lại các món lạ, thí dụ như
đem miếng thịt bò tươi treo ở vườn
quít, cho kiến vàng bu lại « đái » vào, nước
đái con kiến vàng khá chua, vì vậy mà tác động
nhanh khiến thịt bò sống trở nên tái.
Cháo cóc khá nguy hiểm, ăn có thể ngộ
độc nếu gặp loại cóc gọi là con kiết.
Cháo dơi, thêm máu cỨacon dơi quạ ở các cù lao sông
Cả hoặc ở ven rừng được khen là ngon và
bổ vì đỏ tươi màu hồng huyết cầu.
Ngày nay, món nhậu bớt cầu kỳ hơn, có
thể là con chuột mập béo đầu mùa, sống ngoài
đồng lúa chín, chuột khá sạch sẽ, trời sa
mưa, chuột ăn toàn cỏ non, không như chuột
cống rảnh ở thành phố. Chuột rôti ăn
với xoài chua đầu mùa bằm nhỏ, vị chua
sẽ làm tan mùi hôi chuột.
Lại còn món tép sống lột vỏ, chấm vào
nước dừa tươi, nước dừa làm
đổi màu con tép sống, trông đỏ hồng như
vừa luộc. Nhiều người thích nhậu với
món tép thịt heo luộc xắt mỏng (kiểu Gò Công).
Còn món lẫu mắm, mắm kho lấy nước cốt,
mắm sôi lên, bốc mùi thơm, lại thêm thịt xắt
mỏng, cá ba sa nấu chung trong cái lẩu, múc ra ăn tùy
thích. Mục đích người ăn lẩu mắm là
tận hưởng các loại « rau rừng » với mùi
vị chát, đắng, lại còn món ăn cho mát
lưởi như bông súng, lá tai tượng, Có người
đếm thử, thấy lẩu mắm ăn với trên
20 loại rau rừng, nào đọt xoài, đọt chùm
ruột, đọt chiếc hoặc bưởi chua. Ăn
nhiều loại rau hoang là dấu ấn thời khẩn
hoang xa xưa, thấy chát đắng hoặcchua là bảo
đảm không chết, thí dụ như đọt cơm
nguội, cọng rau dừa chỉ. Lẩu mắm là món
ăn tập thể, năm sáu người bạn quây
quần chung quanh cái lẩu (lô,tiếng Quảng Đông là
cái lò lửa), thêm bún, cơm là no, dĩ nhiên có rượu.
Nay bày thêm lẩu cá bóng kèo, cá trê trắng, trong tương
lai, còn nhiều thứ lẩu khác hoang dã. Con lươn làm
lẩu canh chuan ay vẫn chưa lỗi thời, ếch thì
chiên bơ, rắn thì ngày càng đắt tiền, uống
máu rắn pha rượu Tây, ăn món rắn xào, rắn
nấu cháo đậu xanh.
Các món ăn còn thay đổi gẫm lại tự
thân nó, món nào cũng ngon nếu thỉnh thoảng ta
muốn ăn trở lại một lần. Lâm Ngữ
Đường bảo: Tình yêu đất nước là
sự thương nhớ thèm thuồng món ăn mà cha
mẹ cho mình ăn lúc mình còn nhỏ tuổi. Phải có
không khí bờ sông, bờ rạch, quán lợp lá, cần
nhất là bạn tri âm. Ăn để thư giãn thời
buổi nhiều lo âu, buồn vui
lẫn lộn.
Sơn Nam
(Nam Bộ, Xưa và Nay,
4/97)